Nét đặc trưng văn hóa ẩm thực phương Đông

Thiên nhiên đã đem đến trái đát những chủng tộc khác nhau, dẫn đến mọi khía cạnh, từ vắn hóa, địa lí, tiếng nói,… khác nhau. Qua nhiều năm tiến hóa và phát triển, ẩm thực cũng không nằm ngoài những quy luật đó. Ngày nay, trên thế giới có nhiều nền văn hóa ẩm thực khác nhau, nhưng tổng hợp nhất về sự khác biệt vẫn là văn hóa ẩm thực Đông – Tây.

Văn Hóa Ẩm Thực Phương Tây

Người phương Tây ăn uống hằng ngày, bất kể màu sắc, hương vị hình thức thực phẩm ra sao, nhưng họ vẫn đảm bảo chất dinh dưỡng, mỗi ngày phải có được bao nhiêu calo, vitamin,… Họ thường quan tâm tới sức khỏe thông qua việc ăn uống, dù đôi khi hương vị không quá thơm ngon. Người ta gọi đó là ‘quan niệm ẩm thực lý tính’.

Gia vị thực phẩm cho món ăn phương tay

Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông

Trong khi đó, phương Đông mình có ‘quan niệm ẩm thực mang tính thẩm mỹ’. Người phương Đông thường dùng từ vị giác, thị giác, xúc giác thông qua màu, hương vị, hình thức, bác đĩa để đánh giá thức ăn mà ít khi để ý đến chất dinh dưỡng có phối hợp thỏa đáng hay không.

Một trong những nguyên nhân tạo nên sự hấp dẫn của món ăn phương Đông là mùi vị. Khi nấu nướng, ẩm thương pương Đông thường chế biến pha trộn với nhiều hương liệu khác nhau, với một nguyên liệu chính, ẩm thực phương Đông có thể nấu ra với vô vàn món khác nhau. Ví dụ chúng ta ẩm thực nổi tiếng thịt vịt 7 món, hay 8 món chế biến từ yến sào ngon nhất

Kỹ thuật cắt thái thực phẩm ở phương Đông cũng rất đa dạng: nhỏ nhất như sợi bút, hạt lựu, mỏng nhất như tờ giấy, hơi to là miếng vuông, miếng hình quả trám, hay cả tròn như hòn bi. Tất cả đều thể hiện cái đẹp về hình hài, nhưng vẫn khiến người thưởng thức dễ ăn, dễ cảm nhận hương vị thơm ngon.

bố trí bàn ăn đẹp

Ẩm thực phương Đông nói chúng là ẩm thực thực vật. Người phương Đông ăn tới hơn 600 loại rau, nhiều gấp 6 lần người phương Tây. Bữa ăn truyền thống của người phương Đông trước đây chủ yếu chỉ có rau, đến ngày lễ tế hoặc gia đình khác giả mới có cá thịt.

Nếu bạn chưa từng thưởng thức trọn vẹn nét đặc sắc của ẩm thực phương Đông, hãy tìm tới các công thức nấu ăn hữu ích hay đến thăm các nhà hàng truyền thống để thưởng cho cả gia đình 1 bữa ăn đầy đủ mĩ vị nhé.

Nét văn hóa Việt qua bữa cơm gia đình

Văn Hóa

Gia đình là nơi nuôi dưỡng con người, là “tế bào của xã hội”. Có thể nói, một trong những yếu tố cấu thành nên nét văn hóa gia đình quan trọng nhất phải kế đến đó chính là bữa cơm hằng ngày bởi đó là nơi các thành viên cùng trò chuyện, quan tâm nhau sau một ngày làm việc mệt mỏi, nơi gắn kết, bảo ban, dạy dỗ con trẻ nên người.

Từ lâu, khi nói đến văn hóa gia đình, người ta thường đề cập đến bữa cơm không phải vì mọi người được thưởng thức các món cao lương mĩ vị, mà là bữa ăn gắn kết đầy yêu thương, tạo nên sợi dây tình cảm bền chặt giữa các thành viên trong gia đình. Nhiều gia đình phương Tây theo chủ nghĩa duy lí thường ít coi trọng bữa cơm gia đình, khiến cho con cái khi trưởng thành về sau này đều có cuộc sống riêng của bản thân mà quên mất đi tình thâm, sự quan tâm đến bố mẹ, đến đại gia đình của mình. Trong khi đó, các nước châu Á, đặc biệt là Việt Nam có thói quen sau một ngày làm việc vất vả sẽ quay về mái nhà chung quây quần bên mâm cơm ấm cúng, cùng nhau dùng bữa cơm chiều. Đó là khi ông bà, cha mẹ, con cái cùng thưởng thức những món ăn ưa thích được chính tay mẹ và bà nấu, cùng chia sẻ những câu chuyện đã gặp trong ngày, hay sự ân cần dạy dỗ, chỉnh đốn nhẹ nhàng đối với trẻ nhỏ.

Tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa vùng miền mà mỗi một gia đình lại có một mâm cơm khác nhau. Đi kèm theo đó mà thực phẩm chế biến nên bữa ăn cũng phong phú và đa dạng không kém. Thông thường, bữa cơm của người Việt thường bao gồm một món mặn, một món xào và một món canh. Độc đáo nhất có lẽ là sự kết hợp thêm của vị mặn mặn của món nước chấm như nước mắm, nước tương hay các loại mắm cá, mắm tép,…Sau bữa cơm ấy, mọi người cùng nhau dọn dẹp, đem tất cả vào một chiếc bồn rửa chén được chọn mua kĩ càng giúp cho căn nhà thêm ấm cúng, rồi cùng nhau trò chuyện vui vẻ.

Có thể nói, thông qua những bữa cơm như thế, các thành viên trong gia đình có dịp hiểu nhau hơn, chia sẻ được mọi điều trong cuộc sống hằng ngày. Chính bữa cơm gia đình ấy đã góp phần tạo nên giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam đẹp đẽ, trường tồn.

Tục cưới hỏi – nét văn hoá đẹp trong hôn nhân Việt Nam xưa và nay

Văn Hóa

 Một trong những nét văn hoá đẹp của người Việt được lưu truyền đến ngày nay chính là tập tục cưới hỏi – một nghi thức quan trọng của những đôi uyên ương.

Kết quả hình ảnh cho văn hóa cưới hỏi

“Trai khôn lấy vợ, gái lớn gả chồng” đó là sự kiện trọng đại trong đời mà đa số con người đều phải trải qua, việc dựng vợ gả chồng cho đôi uyên ương mang nhiều ý nghĩa hết sức sâu sắc. Tục cưới hỏi được cải biến với những điều phù hợp hơn trong xã hội hiện nay, tuy vẫn còn một số vùng miền lạc hậu lưu giữ hủ tục không phù hợp nhưng với sự can thiệp của nhà nước, những tập tục lạc hậu đang dần được tháo gỡ. Hôn nhân xưa và nay khác nhau rất xa, tuy nhiên vẫn còn lưu giữu một số nghi thức đẹp trong cưới hỏi, như tập tục trầu cau ngày cưới, với lời chúc ý nghĩa hôn nhân bền chặt đến các cặp uyên ương.

Hôn nhân hiện đại không còn quy tắc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, “chồng chúa vợ tôi” như thời xưa. Những đôi trai gái đều có quyền bình đẳng trong hôn nhân và được tự do chọn lựa tình yêu sẽ gắn bó cùng họ trong suốt quãng đời còn lại. Hôn nhân hiện nay “một vợ một chồng” và vợ chồng phải có nghĩa vị chăm sóc nhau, gắn bó nhau suốt đời chứ không phải “năm thê bảy thiếp” mà người đau khổ nhất chính là phụ nữ.

Hôn nhân tiến bộ được xây dựng trên những tư tưởng tiến bộ, tuy nhiên cũng giữ được các giá trị đáng quý truyền thống về nghi lễ, vật phẩm. Lễ cưới hỏi trong dân gian với những bộ xiêm y rực rỡ, chú rể chọn giờ hoàng đạo để đón dâu, sau cưới là khoảng thời gian cho tuần trăng mật ngọt ngào và về thăm lại gia đình với một số lễ vật nhất định. Tục cưới hỏi là một phong tục đẹp được duy trì và bảo tồn đến ngày nay, giúp se duyên lành cho những đôi uyên ương cùng đi đến bến bờ hạnh phúc.